Chức năng chính của gan là lọc máu, giúp cho máu lưu thông khắp cơ thể, giúp chuyển hoá chất dinh dưỡng và hấp thụ thuốc từ cơ quan tiêu hoá bằng các hợp chất sinh học sẵn có. . Vì vậy nên tất cả lượng máu trong cơ thể đều phải lọc qua gan, tuy vậy gan không tới được các tế bào ung thư tồn tại trong máu.
Khuyết tật bẩm sinh.- Do nghiện
rượu, hay bị ảnh hưởng lâu dài bởi nhiều loại bệnh chẳng hạn như viêm gan B
hay viêm gan C, hemochromatosis (trong gan có quá nhiều sắt).
- Bệnh xơ gan (nghien ruou làm cho gan bị tổn thương, viêm gan B hay C, hay hemochromatosis đều
chắc chắn là nguyên nhân làm hỏng và gây bệnh cho gan).
- Những người mắc bệnh
do di truyền gọi là hemochromatosis, hay bệnh thừa sắt, thì thậm chí nguy cơ
ung thư còn hơn rất nhiều.
- Do phơi nhiễm thuốc
diệt cỏ và các chất hoá học như nhựa viny clorua và thạch tín.
- Hút thuốc lại hay nghien
ruou thì càng làm tăng
nguy cơ.
- Chất độc tạo thành
trong bào tử nấm được sinh ra từ một loại mốc của cây cũng gây ung thư. Những
chất độc trong bào tử nấm sẽ làm hỏng lúa mỳ, lạc, gạo, ngô hay đậu tương.
Những nhân tố khác bao
gồm:
- Giới tính: Đàn ông
thường mắc bệnh ung thư gan nhiều hơn phụ nữ.
- Những vận động viên
nữ phải sử dụng hormon để phát triển cơ trong thời gian dài có thể tăng
nguy cơ ung thư gan.
Triệu chứng
1- Đau vùng gan: đau vùng hạ sườn phải, thường gặp vào thời kỳ giữa và cuối, đau tức hoặc như dao đâm. Thường trên nửa số bệnh nhân có đau vùng gan, đau xuyên lên vai phải và lưng.
2. Bung trên đầy tức, xuất hiện sớm, thường
kèm theo những triệu chứng rối loạn tiêu hóa nhưng ít được chú ý, đến lúc muộn
thì đã có nước bụng và cổ trướng.
3. Chán ăn là triệu
chứng sớm nhất của bệnh nhưng ít được chú ý và dần dần xuất hiện buồn nôn, nôn,
tiêu chảy nặng lên đã là giai đoạn cuối.
4. Những triệu chứng
khác như mệt mỏi, sút cân, sốt và xuất huyết là nhúng triệu chứng của thời kỳ
cuối mà tiên lượng đã rất xấu.
5. Gan to (khối u vùng
bụng trên) trên 90% số bệnh nhân đến khám là gan to, cứng, mặt gồ ghề hoặc ấn
đau.
6. Lách to thường kèm
theo và là kết quả của xơ gan.
7. Cổ trướng là triệu
chứng của thời kỳ cuối, nước bụng thường màu vàng cỏ úa hoặc màu đỏ (có máu),
thuốc lợi tiểu thường không có hiệu quả.
8. Hoàng đản (vàng da)
do tắc mật và do tế bào hủy hoại nặng dần lên, mạch sao, thường xuất hiện vào
thời kỳ cuối biểu hiện của xơ gan.
Chẩn Đoán Và Phân Biệt
Chẩn Đoán
Các triệu chứng lâm
sàng trên đây được quan sát và thăm khám đầy đủ giúp chẩn đoán bệnh được chính
xác.
- Các phương tiện chẩn
đoán hiện đại:
1- Siêu âm ký có giá
trị chẩn đoán cao và không hại cho người bệnh.
2. Sinh thiết tế bào gan,
soi ổ bụng, mổ bụng thăm dò là các phương pháp có thể thực hiện để xác định
chẩn đoán.
3. Xét nghiệm máu:
nồng độ phosphataza kiềm tăng.
4. Bản đồ rà gan bằng
đồng vị phóng xạ.
5. CT (computed
tomography).
Cần phân biệt chẩn
đoán với:
a. Áp xe gan: đau
nhiều, sốt cao, bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao...
b. Xơ gan: thường gan
không to nhiều hoặc nhỏ hơn...
c. Ung thư gan thứ
phát do di căn: có các triệu chứng của các loại ung thư, cần hỏi kỹ tiền sử
bệnh và khám kỹ để phân biệt.
Xem thêm: vàng da, vang da, buon non, buồn nôn, benh san la gan

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét